Trên đỉnh phù vân đời sao nhỏ bé
Giữa chốn bằng an người lại bộn bề?Ta lại về, ta lại vềĐo cao đo thấp với trời mâyĐường tít xa, núi cheo leo, không ngại
Vạch sương lần theo dấu cũ
Giữa thu. Các cánh đồng
quanh dãy Thất Sơn ngập đầy nước, mênh mông như biển, các ngọn núi như những
hòn đảo chơ vơ giữa trời mây bao la. Trời in bóng nước, nước xanh màu trời. Một
khung cảnh nên thơ, ảnh chụp đẹp như tranh. Chim bay trên trời, cá lội dưới đồng,
giỡn bóng cùng nhau. Xa xa, hoa điên điển nở vàng rực bên đường, như những cánh
bướm đeo nhau cợt gió.
Trong “Gia Định thành thông chí”, mô tả về núi của Thất Sơn, Trịnh Hoài Đức viết: "Hang núi ngậm mây, suối cong nhả ngọc, lại có cây giáng hương… cầm thú béo mập. Phía đông có ruộng đồng bằng phẳng, phía tây có hồ nước. Người Việt và người Khmer cày cấy, chăn nuôi và câu cá, chài lưới quanh chân núi. Ngó xuống ao hồ, đứng trước đồng ruộng, giữa nổi núi cao, có trầm hương, bời lời, sa nhân… lại có suối nước ở trên lưng núi cuồn cuộn chảy…".
- Con về kịp thời, má tưởng không còn thấy được mặt con. Hồi tối má nằm chiêm bao thấy La San Thánh Mẫu.
- Làm sao hở má? - Con đưa đẩy cốt để má vui.
Ngồi trong quán uống vài ngụm cà phê, tôi chiêm nghiệm lại những chuyện đời thường. Buồn vui, giận hờn, cay đắng… ùa về đứa trẻ mười lăm. Đứa trẻ mười lăm giống như bông hoa vừa trổ nụ, chưa kịp nở đã lách vào đời, thấm thía được nhiều điều của xã hội muôn người muôn mặt. Những đứa bạn cùng trang lứa được cha mẹ lo lắng, chăm sóc từng giấc ngủ, được cắp sách đến trường, được đưa đi chơi những nơi chúng thích… Còn đứa trẻ mười lăm như tôi, ngày ngày phải vác lúa mướn kiếm đôi ba đồng lẻ về lo cho gia đình. Nhiều khi thất nghiệp, tôi lại thang thang từ đầu đến cuối hẻm, ai mướn gì làm nấy. Lắm lúc nghĩ sao đời mình bồng bềnh đến vậy!
Gió bay chợt thấy nhớ nhàSương rơi chợt thấy quê nhà đẹp tươiNgồi nhìn từng cánh chim trờiBay về tổ ấm như lời gọi kêuNgẩn ngơ tiếng gọi ban chiềuBâng khuâng bỗng nhớ mẹ yêu thuở nàoNgày ngày vất vả trồng rauNuôi con ăn học gian lao chẳng màng
Chúng tôi gặp lại nhau sau thời gian rất lâu đi biền biệt và không trở lại nơi nầy, dễ cũng đã mười năm rồi. Chúng tôi không ngờ mình lại gặp nhau trong lúc nầy, tại một nơi quá thân quen. Thị trấn đêm cuối năm, vài con gió mỏng tang nghịch ngợm phả se se vào bờ, vài hàng quán liêu xiêu, khu chợ hoa vắng người trải vàng màu Tết. Tất cả chỉ có thế. Tôi phải cắm chân tại chỗ rất lâu khi thấy Nghi đứng trước mắt mình. Nghe trong lồng ngực có cái gì đó vừa bị đá vỡ xoang xoảng, văng ra thật xa. Con người trước mặt trở nên lạ lẫm với tôi, không phải là Nghi của mười năm trước.
Em sẽ kể anh nghe
câu chuyện về tháng Sáu
Khi cơn mưa mùa hè
tưới mát lớp cỏ cây
Khi bầu trời rợp những
chiếc thuyền mây
Khi những cánh bằng
lăng nhuộm tím từng góc phố.
Tháng Sáu chia tay
Một thuở học trò luyến
lưu mùa tan lớp
Ép tặng nhau cánh bướm
phượng vào trang vở
Lưu bút ngày xanh trang ngắn đoạn dài.
Ông Mười Ba nằm lim dim trên trên chiếc ghế bố trước hiên nhà tận hưởng những tia nắng đầu ngày ấm áp. Sáng nào hai thằng cháu nội cũng đưa ông ra đây sưởi nắng. Ông thích nằm một mình. Buổi sáng nắng sớm chiếu xiên qua mái nhà bao trùm lấy cái ghế nơi ông nằm. Nhưng chỉ một chốc sau, khi mặt trời lên cao một tí, thì chỗ nằm của ông và cả khoảng sân lại được cây khế già che nắng, tỏa bóng mát rười rượi, nên bọn chúng cũng an tâm đi làm.
“Tôi khóc những chân trời không có người bay
Lại khóc những người bay không có chân trời”
(thơ Trần Dần)
Gia đình Trí dọn đến Khương đã bốn năm. Khương là một thành phố nhỏ, không phải tỉnh lỵ nên khá trầm lặng. Thành phố nằm trên một vùng đất thoải ở rìa chân núi ven biển, tựa lưng vào dãy núi chập chùng ở phía sau, còn phía trước được che chắn bởi những hàng dương mềm mại, thướt tha chạy dài rì rào đón gió. Phía Nam thành phố là đồng bằng rộng lớn lúc nào cũng trải màu xanh bất tận.
Ruổi rong sương trắng một miền xa
Và cùng gió núi về biên giớiNắng vẫn che trên đầu vời vợiGiọt mồ hôi thấm đất mặn mà.